Với người Mỹ, Phần Lan mới là nơi có nền giáo dục đáng ngưỡng mộ. Nhân rùm beng về câu chuyện Công nghệ giáo dục 4.0 ở Việt Nam thời gian gần đây, mình muốn nói đến cuốn sách Bài học Phần Lan 2.0 của tác giả Pasi Sahlberg. Cuốn sách nói rất chi tiết về cải cách
Việt Nam và Phần Lan sẽ tiếp tục cụ thể hóa các chương trình, hoạt động hợp tác giáo dục trong khuôn khổ Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục dự kiến sẽ được ký kết trong năm 2016. Về phía Phần Lan ý thức mạnh mẽ rằng Phần Lan và Việt Nam là những người bạn cũ và luôn đối xử tốt đẹp với nhau.
VinUni là đại học trẻ nhất châu Á - Thái Bình Dương đạt bảy tiêu chí QS 5 sao 10:02 12-10-2022. Trường Đại học VinUni vừa chính thức đạt chứng nhận tiêu chuẩn QS Stars 4 sao toàn diện của Tổ chức xếp hạng giáo dục uy tín hàng đầu thế giới QS - Quacquarelli Symonds (Anh Quốc), trong đó có tới 7 tiêu chí đã đánh
Bài, ảnh: PHẠM TRUNG. Từ ngày 16 đến 19-9, Sở Giáo dục và Ðào tạo (GD&ÐT) TP Cần Thơ phối hợp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố tổ chức Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh (QP&AN) học sinh, sinh viên TP Cần Thơ lần thứ XII năm 2022.
Góp phần lan tỏa hình ảnh TP. Thái Nguyên phát triển đến với độc giả Năm học 2022-2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu, các sở giáo dục và đào tạo chủ trì, phối hợp với sở y tế tham mưu UBND tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch và chỉ đạo thực hiện Quyết
Hệ thống giáo dục Phần Lan có 9 năm học bắt buộc. Sau 9 năm này, hoặc khi học sinh 16 tuổi, việc học tập như thế nào là quyền tùy chọn của mỗi học sinh. Chỉ cần nhìn từ một quan điểm tâm lý, đây là một lý tưởng giải phóng. Tuy vậy cũng có giai thoại cho rằng nhiều học sinh thực sự cảm thấy như họ đang bị mắc kẹt trong một nhà tù.
7gpEg6R. Gần đây các chuyên gia giáo dục hàng đầu của thế giới đều ấn tượng mạnh bởi nền giáo dục Phần Lan. Học sinh Phần Lan luôn đứng đầu về khoa học và khả năng đọc viết, và thường dẫn đầu cuộc thi quốc tế PISA Chương trình đánh giá học sinh quốc tế – Programme for International Student Assessment. Điều kỳ lạ là Phần Lan không hề xem trọng các kỳ thi sát hạch, kể cả PISA, và cũng không có một chương trình hay trường lớp nào dạy học sinh thi PISA cả. Thậm chí chính những người Phần Lan cũng ngạc nhiên về việc học sinh của nước họ luôn đứng đầu trong các cuộc thi PISA, vì họ cũng không quan tâm đến xếp hạng hay đặt mục tiêu phải đạt thành tích gì từ cuộc thi này. Năng lực học tập của học sinh Phần Lan đã thu hút các chuyên gia giáo dục từ 65 quốc gia, kể cả nền giáo dục hàng đầu thế giới như Mỹ đến tìm hiểu khám phá nền giáo dục đất nước này, và phát hiện ra nhiều điểm thú vị đáng học hỏi. Năm 2011, các Giáo sư nghiên cứu và giáo dục trường Harvard của Mỹ đã cùng nhà làm phim nổi tiếng Robert Compton đã làm bộ phim The Finland Phenomenon Inside The World’s Most Surprising School System’ nghĩa là Hiện tượng Phần Lan Bên trong hệ thống trường học đáng ngạc nhiên nhất trên thế giới để tìm hiểu về nền giáo dục kinh ngạc của đất nước này. Trở về với thực trạng giáo dục của Việt Nam, một nền giáo dục mà nhiều người thừa nhận là đã tụt hậu hàng thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ so với giáo dục thế giới. Chúng ta hãy thử làm một so sánh giữa giáo dục Phần Lan và Việt Nam, để xem giáo dục Việt Nam cần thay đổi hướng phát triển như thế nào để tốt hơn. GIÁO DỤC PHẦN LAN PL và GIÁO DỤC VIỆT NAM VN + PL Luật pháp Phần Lan quy định không được xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các học sinh trước lớp 6 -VN Các lớp đều có kỳ thi cho điểm đánh giá + PL Phương châm của giáo dục Phần Lan là muốn nhà trường thành thiên đường của trẻ em Tại -VN Việt Nam, nhà trường là môi trường cạnh tranh và nhồi nhét kiến thức + PL Nền giáo dục công bằng, học sinh thành thị hay nông thôn đều cùng được hưởng giáo dục như nhau -VN Có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn, giữa trường chuyên lớp chọn. + PL Ngành giáo dục không đánh giá xếp hạng các trường. Không có điểm danh, không có trường chuyên lớp chọn. Giáo viên tự hào về ngôi trường mình đang giảng dạy, phụ huynh và học sinh tin tưởng ngôi trường vào giáo viên của mình. -VN Có trường chuyên lớp chọn khiến phụ huynh, học sinh có sự phân biệt và thiếu tin tưởng nếu con em mình không được học tại một trường điểm hoặc lớp điểm. Hệ quả là việc chạy trường dẫn đến tiêu cực trong giáo dục. + PL Giáo dục hoàn toàn miễn phí. -VN Học sinh phải đóng học phí. + PL Giáo viên từ bậc tiểu học tối thiểu phải có bằng thạc sỹ, được hưởng lương cao và được xã hội xem trọng. Tính chọn lọc giáo viên rất cao chưa tới 10% số người đăng ký được chọn -VN Chỉ có giáo viên bậc ĐH mới cần bằng thạc sỹ, thu nhập thấp. + PL Không có khái niệm học thêm . -VN Trước đây việc học thêm dẫn đến tệ nạn học thêm thì điểm cao, không học thêm thì không được điểm cao. Ngày nay đã cấm học thêm, nhưng do thu nhập giáo viên thấp nên vẫn phải dạy chui’. + PL Giáo viên soạn bài giảng phù hợp từng độ tuổi . -VN Bài giảng không phù hợp với từng độ tuổi, có những bài toán không hợp lý, người lớn cũng không giải được. + PL Giáo viên tự chọn đầu SGK, và chủ động soạn bài giảng, được phép áp dụng phương pháp giảng dạy riêng . -VN Không có sự chủ động, giáo án soạn theo SGK. + PL Giáo viên được tuyển chọn khắt khe từ đầu vào, xã hội tôn trọng giáo viên, vì thế ngành giáo dục cũng không cần kiểm tra phân loại, hay giám sát giáo viên. -VN Định kỳ kiểm tra phân loại giáo viên khiến phụ huynh không muốn con em mình học giáo viên yếu, học giáo viên yếu thì phụ huynh và học sinh không có niềm tin. + PL Mỗi giáo viên thường theo một lớp trong thời gian dài để giáo viên và học sinh thực sự gắn bó và hiểu nhau. Thầy cô cũng có thể biết điểm yếu, khó khăn riêng của từng học sinh để bù đắp kiến thức . -VN Không chú trọng vấn đề này, vì thế nên giáo viên không biết hết được điểm mạnh hay yếu của học sinh để phát huy hay bù đắp kiến thức. + PL Học sinh bắt đầu học tiểu học từ 7 tuổi . -VN Lớp 1 bắt đầu từ lúc 6 tuổi. Nhưng để cho con em có thể theo kịp với bạn bè và chương trình, phụ huynh đã phải cho con em mình đi học chữ từ trước khi vào lớp 1. + PL Học sinh trung học mỗi tối mất chưa tới 30 phút làm bài tập ở nhà. -VN Học sinh Việt Nam mất khá nhiều thời gian để làm bài tập và học thuộc lòng, thông thường mất cả buổi tối để làm bài tập ở nhà. + PL Tập trung cho học sinh yếu chứ không phải học sinh giỏi, học sinh giỏi cũng lo cho học sinh yếu, giúp chất lượng chung cả nền giáo dục cao, ươm trồng tinh thần hợp tác giúp đỡ nhau, vì thế mà học sinh thành những công dân có tính cộng đồng, sẵn lòng đỡ người khác, giúp văn hóa đạo đức của cả đất nước nâng cao. -VN Phân biệt học sinh giỏi yếu, học sinh yếu cảm thấy chán học, tự ti, bị nhồi nhét tư tưởng cạnh tranh từ nhỏ nên có khả năng sẽ thành công dân ít có tính cộng đồng. + PL Học sinh Phổ thông không có thi cử, chỉ có 1 kỳ thi duy nhất là thi vào ĐH. Mục đích của giáo dục là để truyền tải kiến thức chứ không phải dạy để thi cử, vì thế học sinh được tự do tìm tòi khám phá môn học mình yêu thích, không bị áp lực thi cử. -VN Chịu áp lực mạnh từ thi cử, học sinh học chủ yếu để thi tốt, điểm cao, chạy theo thành tích, không kích thích để phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, chương trình học thuộc lòng quá nặng khiến các em cũng không có thời gian để đầu tư phát triển khả năng sáng tạo. + PL Không nhất thiết chỉ học trong SGK, kiến thức ở ngay trong cuộc sống, học sinh có nhiều giờ học vui chơi ngoại khóa, lúc này giáo viên và học sinh tha hồ sáng tạo mà không theo giáo trình nào, học sinh thích thú tìm tòi khám phá, thu được nhiều kiến thức, giáo viên cũng nắm được điểm mạnh cần phát huy của học sinh. Giáo viên muốn học sinh tự tìm thông tin hơn là học trong SGK . -VN Kiến thức chỉ đơn điệu ở trong SGK. + PL Không khí học tập thích thú thoải mái không có áp lực, học sinh học vì thích thú nên hoàn toàn không cần điểm danh . -VN Nhiều học sinh không thích đi học nên điểm danh là việc nhà trường cảm thấy cần thiết. Một quốc gia không đặt ra các tiêu chí để đánh giá xếp hạng giáo viên và học sinh, không yêu cầu thầy trò phải đứng đầu, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên. So sánh giữa một nền giáo dục hàng đầu thế giới và một nền giáo dục tụt hậu như Việt Nam có thể thấy khác biệt là quá xa. Nhưng đấy cũng là một cách tốt để các nhà hoạch định chính sách Giáo dục đưa ra một hướng đi đúng đắn cho giáo dục Việt Nam./. NguồnNgọn Hải Đăng/ĐKN
Phần Lan là một quốc gia có những nghịch lý kỳ lạ ở nhiều khía cạnh, trong đó có giáo dục. Là cái nôi của công nghiệp viễn thông và là một trong những nước có tỉ lệ sử dụng điện thoại di động cao nhất, Phần Lan cũng được biết đến với những người dân hướng nội, ít nói. Tránh “chuyện phiếm” là một đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Phần Lan. Các tầng lớp xã hội khác ở Phần Lan cũng yêu thích thứ chủ nghĩa tối giản này. Trong kinh doanh, chính trị và ngoại giao, người Phần Lan thích nói chuyện thẳng thắn và dựa trên thủ tục đơn giản. Họ muốn giải quyết vấn đề chứ không phải trình bày vấn đề. Những phát minh và cải tiến sáng tạo ở Phần Lan thường cũng dựa trên những ý tưởng đơn giản nhưng làm nên một khác biệt lớn. Vậy có lẽ không có gì ngạc nhiên khi những nguyên tắc và giá trị này được cố kết vào giáo dục Phần Lan. Một trong những giá trị giáo dục của Phần Lan là đặt việc dạy và học lên cao hơn hết thảy những vấn đề khác khi cân nhắc các chính sách và cải cách giáo dục. Trên hết, người Phần Lan dường như không tin rằng làm đi làm lại một thứ trong giáo dục sẽ tạo ra bất cứ khác biệt đáng kể nào để cải nhà giáo dục Phần Lan không tin rằng giao nhiều bài tập về nhà hơn thì sẽ giúp học sinh học tốt hơn, nhất là nếu đó là những bài tập bình thường và không thách thức về mặt trí tuệ. Nguồn ít hơn, học nhiều hơnKinh nghiệm của Phần Lan thách thức logic thông thường trong tư duy cải cách giáo dục vốn vẫn thường tìm cách khắc phục thực trạng học hành chưa được như kỳ vọng của học sinh bằng cách tăng thời gian dạy học, thời lượng giảng dạy và khối lượng bài tập về nhà cho các em. Ví dụ, khi học sinh học môn toán chưa được đầy đủ, một giải pháp phổ biến sẽ là sửa đổi chương trình môn này để tăng thời lượng học trên lớp và lượng bài tập về nhà. Trong hầu hết các hệ thống giáo dục, điều này cũng đòi hỏi nhiều thời gian lên lớp đối với giáo viên thực tế, dường như có rất ít mối tương quan giữa số giờ dạy dự kiến trong giáo dục công lập với kết quả học tập của học sinh, theo đánh giá của PISA. Điều thú vị là, ở các quốc gia có kết quả cao, thời lượng dạy học chính thức không hẳn là động lực thúc đẩy việc học của học sinh ví dụ Phần Lan và Estonia, trong khi những quốc gia có thành tích học tập thấp hơn nhiều ví dụ Mỹ, Israel và Mexico lại yêu cầu thời lượng dạy học chính thức nhiều hơn đáng kể cho học sinh của họ. Nếu những khác biệt này được chuyển thành số năm học, thì học sinh Úc 15 tuổi chẳng hạn đã đi học nhiều hơn gần năm năm so với học sinh Phần Lan cùng tuổi. Hơn nữa, tại Phần Lan, trẻ em bắt đầu đi học tiểu học khi lên bảy tuổi, trong khi nhiều trẻ em Úc bắt đầu đi học từ lúc năm tuổi OECD, 2019a. Những thống kê này không cho biết bất kỳ điều gì về lượng thời gian học sinh dành cho việc phụ đạo riêng hay học thêm ngoài giờ học chính thức – thông lệ phổ biến ở hầu hết các hệ thống trường học có kết quả cao ở Đông Á. Nhìn chung, thời gian học sinh dành cho việc học trong và ngoài nhà trường tại Phần Lan ít hơn nhiều so với các quốc gia khác. Các trường học ở Phần Lan dường như làm theo ý tưởng của Sugata Mitra về “xâm lấn tối thiểu trong giáo dục”[1], với đề xuất rằng học sinh có thể tự học trong những môi trường không có giám sát và có thể học bằng cách giúp đỡ lẫn ngày học ở trường ở Phần Lan ngắn hơn ở nhiều nước khác, học sinh làm gì sau khi tan học? Về nguyên tắc, học sinh được tự do về nhà vào buổi chiều trừ khi được giao làm gì đó ở trường. Trường tiểu học được yêu cầu tổ chức các hoạt động sau giờ học cho các em học sinh nhỏ tuổi nhất và được khuyến khích thành lập câu lạc bộ giáo dục hoặc giải trí cho các em lớn tuổi hơn. Hai phần ba số trẻ em độ tuổi 10–14 và hơn một nửa số em trong độ tuổi 15-19 tham gia ít nhất một hiệp hội người trẻ hay hiệp hội thể cách khác để minh họa nghịch lý lượng-chất là phân tích xem giáo viên trên khắp các quốc gia sử dụng thời gian làm việc của họ như thế nào. Một lần nữa, sự khác biệt giữa các quốc gia là rất đáng kể. Theo OECD 2019d, ở các trường trung học cơ sở và tiểu học, trung bình hằng năm giáo viên Phần Lan dạy lần lượt khoảng 614 giờ và 677 giờ tức lần lượt là 830 và 900 tiết học kéo dài 45 phút. Con số này tương đương với khoảng bốn tiết một em Phần Lan được vui chơi nhiều hơn ở trong và ngoài nhà trường so với trẻ em ở các nước khác vì người Phần Lan tin rằng trẻ em chơi càng nhiều thì càng học được nhiều. Nguồn đây tôi sử dụng một nguồn dữ liệu khác đối với Mỹ, bởi vì dữ liệu OECD cho nước này đã được ghi nhận là phóng đại đáng kể. Dựa trên phân tích chi tiết của Sam Abrams, người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Chi phí-Lợi ích của Giáo dục tại Đại học Columbia của Mỹ, tổng thời gian giảng dạy trung bình hằng năm ở các trường tiểu học và trung học cơ sở lần lượt là 865 giờ và 770 giờ, tương đương lần lượt với 5,5 và 4,9 tiết mỗi ngày hoặc các hình thức giảng dạy khác kéo dài 50 phút Abrams, 2015. Giáo viên Canada con số khác nhau giữa các tỉnh dạy xấp xỉ 800 giờ ở trường tiểu học và 750 giờ ở trường trung học cơ sở mỗi ngày điển hình ở trường trung học phổ thông Phần Lan khác với ở Mỹ như thế nào? Trước tiên, giáo viên Mỹ dành gần gấp đôi thời gian dạy và làm việc với học sinh mỗi tuần so với đồng nghiệp Phần Lan của họ. Dạy sáu tiếng hay bốn ca học mỗi ngày là một công việc nặng nhọc khiến nhiều giáo viên quá mệt mỏi, không thể tham gia vào bất cứ hoạt động gì mang tính chuyên nghiệp khi họ dạy xong. Công việc của giáo viên Mỹ do đó được định nghĩa chủ yếu là dạy bên trong và bên ngoài lớp học. Tại một trường trung học điển hình ở Phần Lan, trái lại, giáo viên dạy trung bình bốn tiếng một ngày. Tuy giáo viên được trả công theo số tiết dạy, song họ cũng có thời gian mỗi ngày để soạn bài, học tập, và kiểm điểm việc dạy của mình với các giáo viên viên ở các trường học Phần Lan có nhiều trách nhiệm khác bên cạnh việc dạy đánh giá thành tích và tiến bộ chung của học sinh mình dạy, soạn và liên tục phát triển chương trình giảng dạy của mình tại trường, tham gia một vài sáng kiến sức khỏe và phúc lợi trường học liên quan đến học sinh của mình, và bổ túc thêm cho những học sinh có thể cần giúp đỡ thêm. Nhiều trường học Phần Lan, nhờ vào định nghĩa độc đáo về công việc của giáo viên và bản chất của nhà trường, là những cộng đồng học tập chuyên nhà giáo dục Phần Lan không tin rằng cứ giao nhiều bài tập về nhà hơn thì kiểu gì cũng giúp học sinh học tốt hơn, nhất là nếu đó là những bài tập bình thường và không thách thức về mặt trí tuệ, mà thật không may bài tập trường giao về nhà thường là những dạng bài một số cuộc điều tra quốc gia và nghiên cứu quốc tế, học sinh tiểu học và trung học cơ sở Phần Lan có khối lượng bài tập về nhà ít nhất. Tờ Wall Street Journal cho biết học sinh Phần Lan hiếm khi phải làm hơn nửa tiếng đồng hồ bài tập về nhà mỗi ngày Gameran, 2008. Dữ liệu từ các cuộc khảo sát PISA gần đây cho thấy học sinh 15 tuổi tại Phần Lan dành ít hơn ba giờ mỗi tuần để làm bài tập về nhà OECD, 2019a.Đúng là nhiều học sinh tiểu học và trung học cơ sở có thể hoàn thành hầu hết các bài tập về nhà ngay tại trường, trước khi tan học. Theo OECD, học sinh Phần Lan 15 tuổi không học gia sư hoặc học thêm ngoài những gì được dạy trên trường OECD, 2019b. Nhìn từ góc độ này, thành tích cao của học sinh Phần Lan trong các bài kiểm tra quốc tế thật đáng kinh ngạc. Ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Thượng Hải, Trung Quốc, những nơi có kết quả bằng hoặc cao hơn Phần Lan trong môn đọc hiểu, toán học và khoa học, hầu hết học sinh dành hàng giờ sau giờ học ở trường và vào ngày nghỉ cuối tuần cũng như ngày nghỉ lễ trong các lớp học tư và các lò luyện thú vị là, bằng chứng từ những nghiên cứu gần đây nhất cho thấy học sinh Phần Lan ít bị lo lắng và căng thẳng thần kinh hơn so với học sinh các nước khác OECD, 2004, 2007. PISA kết luận rằng chỉ 7% số học sinh Phần Lan nói các em cảm thấy lo lắng khi làm bài tập toán ở nhà, so với 52% ở Nhật Bản và 53% ở Pháp Kupari & Välijärvi, 2005.Nghịch lý của Phần Lan cũng có thể là như này Kiểm tra ít hơn, Học nhiều hơn. Phần Lan nổi danh với văn hóa kiểm tra học sinh không áp lực, nơi đây không tồn tại các bài kiểm tra chuẩn dựa trên điều tra dân số trước khi học sinh trung học phổ thông tỏ ra sẵn sàng học cao hơn trong Kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia. Tuy học sinh tại Phần Lan không bị kiểm tra như học sinh ở nhiều nước khác phải thường xuyên làm các bài kiểm tra chuẩn, song điều này không có nghĩa là không có công cụ đánh giá học sinh ở Phần Lan hay không có bất kỳ dữ liệu nào về việc học của học sinh, mà hoàn toàn ngược lại. Giáo viên đánh giá học sinh vào mọi nguyên tắc, có thể chia đánh giá học sinh tại Phần Lan thành ba loại hình đánh giá trên lớp của giáo viên; đánh giá toàn diện tiến bộ của học sinh sau mỗi học kỳ; và các bài đánh giá quốc gia thường xuyên được Trung tâm Đánh giá Giáo dục Phần Lan FINEEC tiến hành, sử dụng phương pháp lấy mẫu khoảng 10% học sinh trong một nhóm tuổi, đo lường việc học tập của học sinh trong các môn đọc hiểu, toán, khoa học cũng như các môn học và chủ đề khác được xác định trong kế hoạch đánh giá quốc gia được chính phủ Phần Lan phê duyệt trong chu kỳ bốn năm. Các trường học không nằm trong những mẫu này có thể mua một hoặc nhiều bài kiểm tra từ FINEEC để đánh giá kết quả học tập của họ với kết quả của các trường càng nhiều, học càng nhiềuNhiều người biết rằng Phần Lan là nơi mọi người rất coi trọng việc chơi. Hầu hết các bậc cha mẹ đồng ý rằng việc chơi ngoài trời tự do trong thời thơ ấu sẽ có lợi cho đứa trẻ hơn bất kỳ điều gì. Hầu hết giáo viên đồng ý rằng việc dạy và học tại trường tiểu học nên được xây dựng dựa trên sự tham gia tích cực của trẻ trong các hoạt động vui chơi thay vì dạy các môn khác nhau theo những cách truyền thống hơn. Nhiều trường trung học cơ sở kết hợp việc học thông qua chơi trong danh sách các phương pháp giảng dạy để thu hút học sinh hơn trong việc thử nghiệm, tìm tòi và khám phá trong chương trình dạy một số lý do vì sao câu ngạn ngữ “chơi càng nhiều, học càng nhiều” vô cùng phù hợp với văn hóa giáo dục Phần Lan. Đầu tiên, trẻ em tại Phần Lan bắt đầu đi học chính thức muộn hơn bạn bè đồng lứa ở hầu hết các quốc gia, lúc lên bảy tuổi. Các bậc cha mẹ và nhà giáo dục Phần Lan đánh giá cao việc kéo dài tuổi thơ này, cho phép trẻ em được chơi nhiều hơn và lớn lên theo nhịp độ tự nhiên của chúng. Thứ hai, ngày học tại trường tiểu học ở Phần Lan tương đối ngắn hơn hầu hết các nước khác. Thời khóa biểu hằng ngày của trường phải bao gồm thời gian giải lao thường xuyên giữa các tiết, và tất cả các trường phải có ít nhất một tiếng mỗi ngày cho các hoạt động thể chất và chơi đùa cho mọi trẻ em. Điều này cho trẻ em thêm nhiều thời gian để chơi trong ngày. Cuối cùng, trẻ em tại Phần Lan có ít bài tập về nhà hơn so với bạn bè đồng lứa học tiểu học và trung học cơ sở ở những nơi khác. Thời gian ngoài lúc đến trường thường được xem là thời gian tự do cho trẻ chơi đùa, thực hiện sở thích, hay dành thời gian cho gia chơi đùa tự do, không có hướng dẫn cho trẻ nhỏ và học tập thông qua việc chơi ở trường tiểu học và trung học được lồng ghép chặt chẽ vào công việc hằng ngày ở các trường tại Phần Lan. Chơi đùa được xem là quyền con người cơ bản của mọi đứa trẻ, và quyền đó được nêu rõ trong các quy định của quốc gia hướng dẫn hoạt động của nhà trường. Các nhà chức trách quốc gia yêu cầu việc học tập thông qua vui chơi đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy an sinh của trẻ, tương tác với người khác, và học các kỹ năng thiết yếu ở mẫu giáo và năm tiền tiểu học. Hội liên hiệp Cha mẹ Phần Lan, tổ chức xây dựng mối hợp tác quốc gia giữa gia đình và nhà trường cùng trường mầm non, tư vấn cho các bậc phụ huynh về vai trò quan trọng của việc vui chơi trong cuộc sống của trình Giảng dạy Cốt lõi Quốc gia dành cho Chương trình Chăm sóc và Giáo dục Mầm non năm 2019 xoáy trọng tâm vào việc vui chơi, chỉ ra rằng “hiểu được tầm quan trọng và các khả năng sư phạm của việc chơi đối với trẻ trong quá trình thúc đẩy an sinh và học tập là điều thiết yếu đối với chăm sóc và giáo dục mầm non” Cơ quan Giáo dục Quốc gia Phần Lan, 2018. Học tập thông qua chơi đùa là một phương pháp sư phạm phổ biến trong những năm đầu của giáo dục tiểu học và thường được đưa vào trong giảng dạy ở các trường trung học. Rõ ràng là trẻ em tại Phần Lan vui chơi nhiều hơn ở trong và ngoài nhà trường so với trẻ em ở các nước khác. Tóm lại, rất nhiều người Phần Lan chắc chắn rằng trẻ em chơi càng nhiều thì càng học được lượng tốt hơn nhờ công bằng mạnh hơnNguyên tắc mang tính chính sách chủ đạo của cuộc cải cách nhà trường phổ thông ở Phần Lan thập niên 1970 là tạo cơ hội giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi người. Nguyên tắc này cũng bao gồm quan điểm cho rằng thành tích học sinh nên được phân bổ đồng đều giữa các nhóm xã hội và khu vực địa là Phần Lan trong một thời gian dài từng là một đất nước đồng chủng. Tuy nhiên, kể từ khi Phần Lan gia nhập EU năm 1995 đến nay, đa dạng hóa văn hóa và chủng tộc ở Phần Lan diễn ra nhanh hơn bất cứ nước nào khác trong EU, nhất là tại các quận và trong các trường ở những thành phố lớn, nơi tỉ lệ dân số nhập cư thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai chiếm một phần tư tổng số dân. Năm 2000, ước tính khoảng 2,5% cư dân tại Phần Lan là công dân gốc nước ngoài, và đa phần trong số họ không nói bất kỳ ngôn ngữ trong nước nào tiếng Phần Lan, Thụy Điển, hay Sami ở nhà. Vào đầu năm 2020, con số đó đã vượt quá 8%.Các trường học ở Phần Lan đã phải thích ứng với tình hình thay đổi này trong khoảng thời gian rất ngắn. Vào năm 2000, có khoảng cư dân nói tiếng nước ngoài tại Phần Lan. Con số đó đã tăng lên gấp bốn lần vào năm 2020, theo Thống kê Phần Lan. Do đó, một số đô thị đã đặt ra giới hạn cho tỉ lệ học sinh nhập cư theo học ở mỗi trường để tránh sự phân biệt. Tỉ lệ trẻ em nhập cư trong các trường tiểu học và trung học cơ sở ở Helsinki là hơn 22%, và số lượng ngôn ngữ nói ở những ngôi trường này vượt quá 40. Xu hướng này thể hiện rõ ở tất cả các thành phố lớn tại Phần thống giáo dục Phần Lan đi theo các nguyên tắc về hòa nhập và quyền được giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ của trẻ em trong thời gian đầu đến trường trên phương diện đối xử với học sinh có các đặc điểm và nhu cầu khác biệt. Học sinh được xếp vào các trường như thường lệ, trừ khi có một lý do cụ thể để vào một trường khác. Do đó, trong một lớp học Phần Lan bình thường, người ta sẽ thấy thầy cô giáo dạy cho các học sinh có sự khác nhau về năng lực, mối quan tâm và nguồn gốc chủng tộc, thường có sự giúp đỡ của giáo viên trợ giảng. Đa dạng văn hóa trong xã hội Phần Lan gợi ý rằng sự khác biệt trong việc học của học sinh giữa các trường có thể trở nên lớn hơn. Dữ liệu gần đây nhất cho thấy sự chênh lệch về kết quả thực tế giữa các trường đang ngày càng lớn Rautopuro & Juuti, 2018. Tuy nhiên, theo các so sánh quốc tế, công bằng về kết quả giáo dục vẫn vững mạnh.Lược trích từ “Bài học Phần Lan do Đặng Việt Vinh và Phương Anh dịch, Phạm Văn Lam hiệu đính[1] Nguyên văn “minimally invasive education” MIE, một loại hình học tập trong đó trẻ em được học trong một môi trường ít chịu sự giám sát nhất, bắt nguồn từ một thử nghiệm của Sugata Mitra khi còn ở Công ty Đào tạo và Giáo dục Toàn cầu NIIT, Ấn Độ vào năm 1999.
Năm 2020 là năm thứ 3 liên tiếp, Phần Lan - đất nước Bắc Âu nhỏ bé với vẻn vẹn 5,5 triệu dân, được bình chọn là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, theo bản tổng kết Hạnh phúc Thế giới của Liên Hiệp Quốc được công bố vào ngày 20/3. Đứng sau Phần Lan là Đan Mạch, kế tiếp là Thuỵ Sỹ, Ai Xơ Len và Na Uy. Thủ đô Helsinki của Phần Lan cũng được xướng danh là thành phố hạnh phúc nhất thế giới, kế tiếp là Aarhus Đan Mạch, Wellington New Zealand, Zurich Thuỵ Sỹ, Copenhagen Đan Mạch. Một năm có 200 ngày mùa đông u ám, 2 tháng trời không có một tia nắng, nhiệt độ mùa đông có thể rớt xuống -20°C. Vậy điều gì giúp Phần Lan trở thành mảnh đất hạnh phúc nhất thế giới? Đó chính là GIÁO DỤC. Vào đầu những năm 1970, Phần Lan có một hệ thống giáo dục bị xuống cấp trầm trọng và một nền kinh tế lâm nghiệp dựa vào một sản phẩm duy nhất – gỗ, và họ cứ thế chặt cây xuống với một tốc độ chóng mặt. Lúc đó họ nhận ra rằng chặt gỗ chẳng thể đưa họ đi tới đâu nên họ đã quyết định thay đổi hoàn toàn hệ thống giáo dục của mình nhằm tạo ra một nền kinh tế tri thức thực sự. Vậy là bắt đầu từ những năm 1970, người Phần Lan đã tiến hành đổi mới việc tuyển chọn và đào tạo những giáo viên tương lai của họ. Đây là một bước căn bản trong quá trình cải cách giáo dục bởi vì nó đã cho phép họ có được mức độ chuyên nghiệp cao hơn giữa các giáo viên. Tất cả giáo viên đều phải có bằng Thạc sĩ và tất cả phải được đào tạo trong cùng một chương trình đào tạo chất lượng cao. Và cũng kể từ đó, dạy học trở thành một nghề được tôn trọng nhất trong xã hội – không được trả lương cao nhất nhưng cao quý nhất. Kết quả là trong các bài đánh giá học sinh quốc tế, PISA, Phần Lan đã liên tục xếp trên tất cả các nước phương Tây và thực sự chỉ có một vài nước phương Đông với phương pháp học nhồi nhét có kết quả tương tự. Bởi vậy, Giáo dục Phần Lan luôn được đánh giá là một trong những nền giáo dục ưu việt hàng đầu thế giới, đã được nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Brazil…lựa chọn nhập khẩu và áp dụng. Hệ thống Giáo dục Tân Thời Đại là đơn vị đầu tiên chính thức đưa Giáo dục Phần Lan về Hà Nội và áp dụng thành công trên chương trình Mầm non và Tiểu học. Tân Thời Đại mong muốn lan tỏa những giá trị tốt đẹp của nền giáo dục hạnh phúc không chỉ tới các thế hệ học sinh Việt Nam mà còn tới số đông các phụ huynh để mỗi người trong chúng ta đều trở thành những CHA MẸ HẠNH PHÚC. Hãy cùng chúng tôi khám phá chìa khóa mở ra cánh cửa hạnh phúc mang tên GIÁO DỤC PHẦN LAN qua video sau nhé.
Phần Lan nằm trong khu vực Bắc Âu. Hiện nay, Phần Lan là một trong những nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh nhất thế giới. Về nguyên tắc, giáo dục Phần Lan dành cho tất cả mọi người, nên không thu học dục được đánh giá cao ở Phần Lan và đặt tiêu chuẩn cao cho giáo dục là một trong những nền tảng của chiến lược quốc gia được xây dựng trên cơ sở lòng mong muốn phát triển đất nước thành một xã hội thông đại học và polytechnics Hệ thống giáo dục đại học ở Phần Lan bao gồm hai khối song song với nhau các trường đại học và các trường polytechnics. Các trường đại học chuyên sâu về nghiên cứu và giáo dục nâng cao có liên quan đến nghiên cứu. Các trường này cấp bằng học vị cử nhân, thạc sĩ cũng như các chứng chỉ sau đại học và bằng tiến trường polytechnics dạy những môn xuất phát từ nhu cầu đào tạo nghề và chuyên môn. Trường này cấp bằng liên quan nhiều đến thực tế làm việc trong đời. Có 20 trường đại học ở Phần Lan mười trường đa ngành, ba trường kỹ thuật, ba trường kinh tế - quản trị kinh doanh và bốn trường nghệ ra, Trường cao đẳng Quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng cũng là trường cấp đại học. Tổng số sinh viên đại học hiện nay là vào khoảng người. Các trường đại học đại diện cho truyền thống giáo dục lâu đời của Phần Lan đầu tiên là Học viện Hoàng gia Turku được thành lập năm 1640. Hoạt động của các trường này được dựa trên cơ sở là quyền được học và tự do cá nhân. Mỗi trường thiết lập những nội quy riêng của mình chi phối chương trình giảng dạy và bằng cấp, và tự đặt chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm. Mục đích của các trường đại học là thúc đẩy nghiên cứu, giáo dục văn hóa, khoa học và cung cấp giáo dục cao hơn dựa trên các công trình nghiên cứu và kiến thức chuyên cầu đối với các trường là phải tổ chức hoạt động sao cho đạt được tiêu chuẩn quốc tế cao trong nghiên cứu, giáo dục và giảng dạy, trong khi vẫn phải tuân theo những nguyên tắc đạo đức và hoạt động khoa học chuẩn mực. Các trường đại học tự chọn sinh viên của mình qua các cuộc thi tuyển. Các khối lớn nhất là công nghệ, nghệ thuật và nhân văn, khoa học tự thường mất ba năm để có bằng cử nhân 180 học phần và khoảng hai năm nữa để có bằng thạc sĩ 120 đến 150 học phần. Các trường đại học Phần Lan sử dụng hệ thống ECTS hệ thống chuyển giao học phần của châu Âu, tiêu chuẩn chung mà các nước trong Liên minh châu Âu và các nước có liên quan đều sử 29 trường polytechnics ở Phần Lan. Nét đặc biệt của các trường này sự liên quan chặt chẽ với đời sống thực tế và mục tiêu của chúng là cung cấp những kỹ năng nghề nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau công nghệ và vận tải, kinh doanh và quản trị, y tế và dịch vụ xã hội, văn hóa, du lịch, phục vụ hậu cần và quản lý, tài nguyên thiên nhiên, nhân văn và giáo dục. Hệ thống trường polytechnics còn khá mới ở Phần Lan, mới chỉ được bắt đầu vào những năm kiện để vào trường polytechnics là học sinh phải qua được kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học hay đã hoàn thành một khóa học nghề bước đầu. Trường polytechnics khác với các trường đại học ở chỗ chúng không phải là sở hữu của chính phủ, mà là của các thành phố hay các tổ chức tư nhiên, chính phủ vẫn đóng góp 57% trong chi phí hoạt động cơ bản. Bằng cấp mang tính chuyên ngành và thời gian học mất khoảng từ 3,5 đến 4 năm 210 đến 240 học phần. Ngoài phần học lý thuyết ra, bằng của trường polytechnics còn yêu cầu đào tạo thực hành ở cơ sở và một dự án tốt viên quốc tế Phần Lan cung cấp những cơ hội giáo dục đại học tuyệt vời trong mọi ngành học. Nói chung, sinh viên tham gia các khóa học lấy bằng chính quy của các trường đại học hay polytechnics không phải trả tiền học. Phần Lan cũng được xem là nước dễ hòa nhập nếu bạn sử dụng tiếng trường đại học và polytechnics ở Phần Lan có tới gần 400 chương trình học quốc tế trong nhiều ngành bằng tiếng Anh. Sinh viên cũng được hưởng nhiều hoạt động giải trí phong phú do các hội sinh viên Phần Lan và các tổ chức sinh viên khác đứng ra tổ chức, chăm lo việc hướng dẫn và mở khóa học đặc biệt cho sinh viên nước cả các chương trình đều dựa trên hệ thống chuyển giao học phần ECTS giữa các nước châu Âu, giúp tăng cường tính minh bạch quốc tế và việc chấp nhận bằng cấp của Phần Lan trên toàn cầu. Khoảng trên sinh viên nước ngoài từ hơn 40 quốc gia tham gia các khóa học lấy bằng ở Phần Lan và khoảng trong số đó học ở các trường đại học. Ngoài ra, khoảng sinh viên khác đến Phần Lan hằng năm theo các chương trình trao đổi hoặc theo cách độc trang web Discover Finland của CIMO, The Centre for International Mobility tạm dịch là Trung tâm Chuyển dịch Quốc tế bạn sẽ tìm thấy thông tin cơ bản về hệ thống giáo dục và nhiều hơn về giáo dục đại học ở Phần Lan. CIMO cũng đã lập danh sách các chương trình trao đổi sinh viên và gần như toàn bộ các chương trình được dạy bằng tiếng Anh ở các trường đại học và polytechnics Phần web của các trường này cũng cung cấp nhiều thông tin quan trọng và các vấn đề cụ thể liên quan đến học tập ở đất nước phía bắc địa cầu kiện học tập Sinh viên nước ngoài muốn học tập và đào tạo ở Phần Lan sẽ có được một môi trường học tập an toàn để phát triển tri thức và chuyên môn, cũng như phát triển nhân cách qua quá trình sống trong một nền văn hóa ở một nước Để vào đại học Phần Lan phải trải qua một kỳ thi tuyển sinh với yêu cầu Đại học Tốt nghiệp THPT, đang học lớp 12 và sinh viên Trình độ tiếng Anh IELTS hoặc Toefl IBT 80 Sinh viên phải tham dự kỳ thi đầu vào sẽ được tổ chức tại Hà Nội và kỳ thi tháng 4 cho đợt nhập học tháng 9 và thi vào tháng 10 cho đợt nhập học tháng 1 Sinh viên sẽ được chọn bốn nguyện vọng khi đủ điều kiện đăng ký dự thi Thạc sĩ Tốt nghiệp đại học chuyên ngành liên quan loại khá, giỏi Trình độ tiếng Anh IELTS hoặc Toefl IBT 902. Hạn nộp hồ sơ Trước tháng 1 và tháng 9 hằng năm3. Hồ sơ cần nộp Đại học Học bạ THPT Bằng tốt nghiệp THPT hoặc giấy chứng nhận tốt nghiệp THPT tạm thời Chứng chỉ IELTS hoặc TOEFL Copy hộ chiếu hoặc CMND Thạc sĩ Bảng điểm đại học Bằng tốt nghiệp đại học Chứng chỉ IELTS hoặc TOEFL GMAT nếu có Thư bày tỏ nguyện vọng và kế hoạch học tập Hai thư giới thiệu Kinh nghiệm làm việc nếu có4. Học phí Hoàn toàn miễn học phí5. Chi phí sinh hoạt Tổng chi phí 350-450 EUR/tháng Nhà ở 150-200 EUR/tháng Tiền ăn, dụng cụ học tập, sách vở 150-200 EUR/tháng Chi phí cá nhân, đi lại 50 EUR/ tháng 6. Việc làm Sinh viên được phép làm thêm 20 giờ/ tuần. Lương làm thêm từ 8-15 EUR/ khi tốt nghiệp, sinh viên được phép ở lại một năm để làm trang lên đường Sau khi đã nhận được kết quả và thư mời nhập học của trường, các bạn sẽ bước đến giai đoạn tiếp theo trong chặng đường du học Phần Lan xa xôi xin visa, mua vé máy bay và chuẩn bị nhà tục làm visa Để học tập tại Phần Lan trong thời gian hơn ba tháng, bạn phải xin giấy phép cư trú trước khi tới Phần Lan. Cần có các tài liệu và thông tin sau đây1. Đơn xin giấy phép cư trú đã điền đầy đủ mẫu OLE 1 và một bản phụ lục nói rõ về chương trình học của bạn mẫu OLE 4. Đề nghị nói rõ thời gian học tập dự kiến tại Phần Hai ảnh, cỡ ảnh hộ Hộ chiếu còn giá trị hay giấy phép thông hành còn giá Bản gốc thư chấp nhận bạn vào Văn bản chứng minh sự thu xếp chỗ ở cho bạn ở Phần Văn bản chứng minh bạn có đủ tiền sống/học ở Phần Lan. Số tiền yêu cầu là euro một năm hay 500 euro một tháng. Bằng chứng này có thể là một thư bảo đảm từ ngân hàng của bạn. Lưu ý rằng bằng chứng về học bổng sẽ được trừ đi từ khoản tiền trên. Nếu toàn bộ chi phí được trả qua một tổ chức nào đó, thì phải cộng thêm 120 USD mỗi Văn bản chứng minh nếu bạn có bất kỳ học bổng hiểm du học Bảo hiểm bắt buộc phải có trong hồ sơ xin máy bay Vé máy bay về Việt Nam thường dao động trong khoàng 800 EUR - EUR tùy từng đợt, từng hãng. Vé một chiều sang Helsinki cũng khoảng từ 400-600 USD không phải EUR.Nhà ở Ngay sau khi bạn nhận được thư nhập học của trường, bạn nên lập tức tìm nhà ở nếu không sẽ gặp rủi ro không nhà vào ngày sang Phần Lan vì lượng đăng ký nhà ở vào mùa thu rất đông. Vậy việc này các bạn phải làm càng nhanh càng DNSG
Phần Lan và Bắc Âu nói chung hay được nhắc đến như một hình mẫu hoàn hảo với quá nhiều ưu điểm trong mơ. Liệu điều đó có phải là sự thật hay chỉ là “cỏ bên kia đồi vẫn luôn xanh hơn”? Nơi hạnh phúc là thành công Trao đổi với nhiều nhà giáo dục Phần Lan, họ thường trích dẫn câu của Pasi Sahlberg, tác giả nổi tiếng của 2 quyển sách Bài Học Phần Lan - xuất thân vốn là một tiến sĩ kinh tế học “Thật khó để tách rời hệ thống giáo dục Phần Lan ra khỏi chính sách xã hội và môi trường Phần Lan”. Giáo dục Phần Lan phản ánh xã hội Phần Lan. Thực chất nếu sinh ra với quốc tịch Bắc Âu, bạn có thể tự do sống ở khắp thế giới mà vẫn nhận được trợ cấp của chính phủ. Vậy nên, những người sống tại Phần Lan và Bắc Âu nói chung là “những người ở lại”. Cảm giác kiểu như ở nhà ấy, khi bạn đã ở nhà thì bạn sẽ làm mọi thứ tốt nhất, thoải mái nhất. Tháng thủ đô Helsinki khai trương Oodi, là thư viện công cộng thứ 38 trong thành phố không tính thư viện của các trường học, bệnh viện, cơ quan nằm ở khu vực “kim cương” - bao quanh bởi Tòa nhà Nghị viện, Tòa nhà báo chí, Trung tâm Âm nhạc, Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại và hướng ra Quảng trường Nhân dân. Bản thân Oodi cũng là một viên kim cương với tổng giá trị đầu tư lên đến 98 triệu euro và thiết kế kiến trúc đạt nhiều giải thưởng quốc tế. Thư viện này được ví như món quà Phần Lan dành tặng người dân nhân dịp 101 năm độc lập 1917-2018. Thư viện Oodi Người dân Phần Lan thật sự trân quý những món quà như vậy, việc học - đọc và sử dụng những không gian văn hóa được xem là nhu cầu sinh tồn thiết yếu. Helsinki chỉ có dân nhưng năm 2017 có đến gần 7 triệu lượt ghé thăm các thư viện, riêng thư viện Oodi dự kiến sẽ đón lượt ghé thăm mỗi ngày ước tính khoảng 2,5 triệu lượt ghé thăm năm 2018, nâng tổng lượt ghé thăm thư viện tại Helsinki lên đến hơn 9 triệu lượt trong năm 2018. Một thông số để so sánh năm 2017, Anh phải đóng cửa gần 500 thư viện vì có quá ít người lui tới. Nhìn rộng hơn, cả đất nước Phần Lan có 853 thư viện công cộng đón hơn 50 triệu lượt ghé thăm năm 2017. Tất cả nằm trong cam kết giáo dục của Chính phủ Phần Lan từ những năm 1800 khi chưa độc lập rằng “không có một đứa trẻ nào phải đi bộ quá 10 phút để tiếp cận giáo dục tốt”. Những ngôi làng dù nhỏ nhất ở mức 200 hộ dân cũng có trường học và thư viện riêng. Hệ thống giáo dục Phần Lan được hình thành trên cam kết và nền tảng như vậy. Tại Phần Lan, quyền được học và hạnh phúc cũng cơ bản và quan trọng như cơm ăn, áo mặc. “Phần Lan không thể không tạo nên một hệ thống giáo dục tốt, vì con người là tài nguyên quý giá nhất chúng tôi có”, trích lời chia sẻ một thành viên Ban Giám hiệu Đại học Turku. Toàn bộ hệ thống giáo dục đều tập trung vào học sinh làm trung tâm, phương pháp học tập có tính cá nhân hóa rất cao, kết hợp với việc hầu hết các trường tại Phần Lan đều hoạt động phi lợi nhuận nhận trợ cấp từ chính phủ, nên kết quả tạo ra là một hệ thống giáo dục rất đồng đều về chất lượng và phục vụ được nhiều nhóm học sinh khác nhau. Trong một báo cáo của Đại học Turku, khi đánh giá chất lượng giáo dục của một trường tại trung tâm Helsinki thủ đô và những trường ở vùng xa như cực Bắc hay gần biên giới Nga thì chất lượng đào tạo không lệch nhau quá 6%. Một kết quả như phép màu. Với đội ngũ giáo viên chất lượng và yêu nghề, kết hợp với nền giáo dục không áp lực thi cử nên cách Phần Lan cập nhật và thay đổi chính sách và chương trình giáo dục toàn quốc là theo phương pháp “từ dưới lên”. Nghĩa là Bộ Giáo dục Phần Lan sẽ kết hợp cùng Đại học Helsinki tổ chức các tọa đàm giáo dục để chọn ra những giáo viên có phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất ở từng môn, sau đó mời họ cùng nghiên cứu để viết thành bộ quy chuẩn đào tạo phổ biến toàn quốc. Do bất kỳ quy chuẩn hay nội dung giáo dục nào tại Phần Lan đều đã được thực nghiệm trước, nên rất ít tình trạng không áp dụng được. Đồng thời, Ban Biên soạn nội dung cũng là những người đã trực tiếp đứng lớp nên họ có trách nhiệm liên tục hỗ trợ các giáo viên trên toàn quốc để triển khai, cũng như cập nhật chương trình liên tục. Chu kỳ cũ của Phần Lan là 7 năm một lần cho đổi mới quy chuẩn giáo dục giống như cập nhật sách giáo khoa tại Việt Nam và họ dự kiến rút ngắn còn 3 năm một lần. Mang được gì về Việt Nam? Đến đây ắt hẳn bạn sẽ nghĩ “thật khó để mang giáo dục Phần Lan về Việt Nam”. Đây là một nhận định đúng. Vì nền tảng sẵn có phúc lợi xã hội, chất lượng giáo viên, hệ thống giáo dục cộng với ưu thế về dân số thấp nên hệ thống giáo dục của Phần Lan rất đặc thù. Ngay cả những phương pháp học tập theo dự án project-based learning hay hiện tượng phenomenon-based learning với tính cá nhân hóa rất cao cũng khiến việc phát triển diện rộng đặc biệt cho nhóm học sinh có cách tiếp thu khác như ở châu Á cũng khó khăn hơn triển khai những chương trình chuẩn, đo lường bằng kiểm tra. Một điểm khó khăn khác là rất hiếm có quốc gia nào kể cả Anh, Mỹ có đội ngũ giáo viên chất lượng cùng hệ thống giáo dục hỗ trợ học sinh và giáo viên như Phần Lan. Đã có nhiều dự án luân chuyển giáo viên Phần Lan sang dạy tại Anh, Mỹ nhưng vẫn chưa đạt nhiều thành công. Người viết cũng có dịp trao đổi với nhiều đơn vị xuất khẩu giáo dục Phần Lan sang châu Mỹ Latinh. Họ đều loay hoay trước một đội ngũ giáo viên được đào tạo rất ít và chỉ có thu nhập tầm 300-400USD so với mức lương trung bình khoảng tại Phần Lan, chưa kể đến sỉ số lớp học thì đông gấp 5-8 lần so với Phần Lan. Hiện giáo dục Phần Lan mới có vài thành công trong xuất khẩu tại châu Âu nơi có hạ tầng xã hội khá tương đồng và Trung Quốc được định vị là giáo dục cho tầng lớp siêu giàu, với toàn bộ đội ngũ giáo viên và quản lý đều từ Phần Lan sang. Vì vậy, người viết không nghĩ giáo dục Phần Lan có thể xuất hiện tại Việt Nam với hình thái trọn vẹn trong thời gian gần trừ khi có những đối tác hay chính sách đặc biệt. Cá nhân người viết nghĩ rằng có 3 điểm các nhà quản lý và vận hành giáo dục cũng như phụ huynh có thể áp dụng ngay từ bài học Phần Lan. Trước hết, luôn lấy người học làm trung tâm - ưu tiên cao nhất cho việc kích thích trí tò mò và đam mê học hỏi. Trung bình một học sinh Phần Lan chỉ cần tốn 30 phút mỗi ngày để làm bài tập nhưng thời lượng tự nguyện học tập và tìm hiểu luôn cao hơn rất nhiều. Điểm khác biệt đó là điều học sinh muốn làm, chứ không phải bị ép làm. Bên cạnh đó, đầu tư vào đội ngũ giáo viên, trao cho họ công cụ, kiến thức, niềm tin và đặc biệt cần có phúc lợi tương xứng. Cuối cùng là học cách kiểm soát kỳ vọng của bản thân và đồng hành cùng con cái, đừng chỉ đánh giá qua điểm số. Điểm số là cách dễ nhất và lười biếng nhất mà người lớn có thể dùng để đánh giá con trẻ. Nếu bạn muốn có những đứa trẻ đặc biệt, đừng cư xử với chúng một cách tầm thường. * Chương trình Vietnam Market Access Program do Chính phủ Phần Lan tổ chức
giáo dục phần lan